[ÁN TỬ HÌNH] - Câu chuyện tại một phiên Phúc thẩm
Ngày 18/7/2022, tại Tòa án nhân dân cấp cao thành phố HCM đã diễn ra Phiên Phúc thẩm, xử phạt 3 bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", trong đó có 2 trường hợp đã bị Tòa Sơ thẩm tuyên "Tử hình". Bản án sơ thẩm xin được đính kèm bài viết để các bạn đọc tham khảo.
Tác giả xin được phép mạn bàn về trường hợp của bị cáo Phùng Thanh Phượng. Một số điểm chính cần được ghi nhận như sau:
Mua bán trái phép hơn 26k gam ma tuý, với một khối lượng lớn như vậy tung ra thị trường sẽ làm biết bao gia đình tan nát.
Trước tệ nạn ma tuý và tình hình tội phạm ma tuý diễn ra không ngừng trong đời sống, hình phạt tử hình là điều gần như không thể tránh khỏi trong trường hợp này. Hội đồng xét xử dĩ nhiên còn phải cân nhắc tính răn đe, phòng ngừa tội phạm mới xảy ra nữa để mà ra quyết định.
Tuy nhiên, tước đi mạng sống của 1 con người thật sự là điều không đơn giản.
Quyền được sống là quyền tự nhiên, cơ bản của con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền, và trong Hiến pháp Việt Nam. Sinh ra đã là con người, thì đương nhiên không ai có thể tước đi quyền được sống của 1 con người.
Do vậy, hình phạt tử hình chỉ nên áp dụng khi người bị kết án - nói nôm na là - đã “mất tính người”, và không thể cải tạo, phục thiện để sống cuộc sống như 1 con người bình thường được nữa.
Đó là chưa kể, hệ lụy đối với những người còn lại khi người thân của họ bị thi hành án tử hình. Đứng ở công tác quản lý Nhà nước, thì đây cũng là điều cần phải quan tâm.
Để trừng phạt hành vi phạm tội của một người, để loại bỏ hành vi nguy hiểm ra khỏi xã hội, đâu nhất thiết phải loại bỏ chủ thể của hành vi, tức người bị kết án ra khỏi xã hội. Hành vi nguy hiểm có thể được loại bỏ bằng nhiều cách khác như: thay đổi ý thức của chủ thể, loại bỏ điều kiện thực hiện hành vi nguy hiểm, cách ly hoàn toàn chủ thể nguy hiểm khỏi cộng đồng v.v.
Người phạm tội có thể dành cả cuộc đời của họ để bị trừng phạt, bù đắp lại những gì mình đã gây ra.
Còn tử hình, là tước đi quyền được sống của 1 con người, chỉ nên được áp dụng trong trường hợp người bị kết án đã “mất nhân tính”, đã giáo dục/cải tạo nhưng cũng không thể thay đổi ý thức của họ (chỉ có thể phòng ngừa tái phạm tội mới bằng cách tước đi mạng sống, tước đi quyền được sống, quyền con người của người bị kết án).
Câu chuyện tình hình tội phạm diễn ra trong đời sống, 1 phần còn đến từ hiệu quả công tác giáo dục ý thức, và hiểu biết pháp luật cho người dân của Nhà nước, 1 phần đến từ công tác quản lý, và phòng ngừa tội phạm của các cơ quan chức năng, … đâu thể lấy án tử ra để răn đe, nhằm làm giảm đi tình hình tội phạm diễn ra trong đời sống.
Vậy cho nên, theo quan điểm của tác giả:
Án tử là để dành cho trường hợp đã cải tạo/giáo dục nhưng thật sự người bị kết án đã bị “mất nhân tính”, không thể còn được quyền sống với tư cách của 1 con người ; (1)
Còn thực hiện hành vi phạm tội dù nặng tới đâu thì người bị kết án có thể bị trừng phạt bằng cách dành cả cuộc đời để trả nợ; (2)
Công tác răn đe, phòng ngừa tội phạm cần thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, không nên lấy án tử ra để nâng cao hiệu quả cho công tác này trong trường hợp chưa đáp ứng (1), vì như vậy là xâm phạm quyền con người của người khác, là không công bằng cho người bị kết án. (3)